Hiển thị các bài đăng có nhãn ngan hang habubank. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ngan hang habubank. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 11 tháng 5, 2014

Ngân Hàng Habubank Tự Tin Vượt Qua Khó Khăn

Ngân Hàng Habubank


Cụ thể, việc sáp nhập với SHB sẽ giúp hai ngân hàng sáp nhập tiến tới trở thành một định chế tài chính vững mạnh và thương hiệu cũng mạnh hơn; Habubank sẽ không còn nợ xấu.  hai ngân hàng sáp nhập có cơ hội để cùng điều hành một doanh nghiệp có quy mô lớn hơn và có sức cạnh tranh tốt hơn sau giai đoạn sáp nhập; mở rộng khả năng phát triển dịch vụ, đặc biệt là hoạt động bán lẻ do mạng lưới phân phối dịch vụ, thị phần lớn hơn; bổ sung lợi thế về quy mô trong phát triển kinh doanh, trong quản lý chi phí; những điểm mạnh của ngân hàng nhận sáp nhập sẽ hỗ trợ cho ngân hàng Habubank và ngược lại ngân hàng Habubank có nhiều điểm mạnh để hỗ trợ ngân hàng nhận sát nhập.
ngân hàng habubank
                                        Ngân hàng habubank
Ngoài ra, còn nhận được sự hỗ trợ và quan tâm của Ngân hàng Nhà nước trong quá trình sáp nhập do việc sáp nhập nằm trong chương trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.

Nếu tiến hành sáp nhập thành công, theo Habubank, kế hoạch này sẽ tạo ra một định chế tài chính có khả năng tồn tại và phát triển. Định chế này có vốn điều lệ khoảng gần 9.000 tỷ đồng và quy mô tổng tài sản trên 100.000 tỷ đồng, hoạt động khắp các tỉnh thành lớn trong cả nước; có số lượng khoảng 500.000 khách hàng; khoảng 5.000 nhân viên; có các công ty con, có khả năng cung cấp các hoạt động hỗ trợ, gia tăng lợi ích cho khách hàng và tăng thu nhập ngoài lãi cho ngân hàng; có địa bàn hoạt động trong khu vực Đông Dương với các chi nhánh tại Lào và Campuchia; có sự hậu thuẫn mạnh mẽ và có các khách hàng hoạt động trong những lĩnh vực cốt lõi cho sự phát triển của nền kinh tế như: than, khoáng sản, cây công nghiệp (cao su), phát triển hạ tầng và một lực lượng đông đảo các khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong các ngành kinh tế khác nhau; có khả năng cung cấp các dịch vụ hiệu quả và an toàn cho một khối lượng lớn các khách hàng cá nhân...
ngân hàng habubank-1
                                        Khai trương Habubank
• Mục tiêu chiến lược:
1.      Tối đa hoá giá trị đầu tư của các cổ đông; giữ vững tốc độ tăng trưởng lợi nhuận và tình hình tài chính lành mạnh;
2.      Không ngừng nâng cao động lực làm việc và năng lực cán bộ; Habubank phải luôn dẫn đầu ngành ngân hàng trong việc sáng tạo, phát triển chính sách đãi ngộ và cơ hội thăng tiến nghề nghiệp cho cán bộ của mình;
3.      Duy trì sự hài lòng, trung thành và gắn bó của khách hàng với Habubank; xây dựng Habubank thành một trong hai ngân hàng Việt Nam có chất lượng dịch vụ tốt nhất do các doanh nghiệp cầu tiến, hộ gia đình và cá nhân lựa chọn;
4.      Phát triển ngan hang Habubank thành một trong ba ngân hàng được tín nhiệm nhất Việt Nam về: quản lý tốt nhất, môi trường làm việc tốt nhất, văn hoá doanh nghiệp chú trọng khách hàng, thúc đẩy hợp tác và sáng tạo nhất, linh hoạt nhất khi môi trường kinh doanh thay đổi;
5.      Góp phần tích cực làm vững chắc thị trường tài chính trong nước.

Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2012

Tin tức về ngân hàng habubank - Tin BĐS


Cụ thể, việc sáp nhập với SHB sẽ giúp hai ngân hàng sáp nhập tiến tới trở thành một định chế tài chính vững mạnh và thương hiệu cũng mạnh hơn; Habubank sẽ không còn nợ xấu.  hai ngân hàng sáp nhập có cơ hội để cùng điều hành một doanh nghiệp có quy mô lớn hơn và có sức cạnh tranh tốt hơn sau giai đoạn sáp nhập; mở rộng khả năng phát triển dịch vụ, đặc biệt là hoạt động bán lẻ do mạng lưới phân phối dịch vụ, thị phần lớn hơn; bổ sung lợi thế về quy mô trong phát triển kinh doanh, trong quản lý chi phí; những điểm mạnh của ngân hàng nhận sáp nhập sẽ hỗ trợ cho Habubank và ngược lại ngân hàng Habubank có nhiều điểm mạnh để hỗ trợ ngân hàng nhận sát nhập.
Ngoài ra, còn nhận được sự hỗ trợ và quan tâm của Ngân hàng Nhà nước trong quá trình sáp nhập do việc sáp nhập nằm trong chương trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.

Nếu tiến hành sáp nhập thành công, theo ngân hàng Habubank kế hoạch này sẽ tạo ra một định chế tài chính có khả năng tồn tại và phát triển. Định chế này có vốn điều lệ khoảng gần 9.000 tỷ đồng và quy mô tổng tài sản trên 100.000 tỷ đồng, hoạt động khắp các tỉnh thành lớn trong cả nước; có số lượng khoảng 500.000 khách hàng; khoảng 5.000 nhân viên; có các công ty con, có khả năng cung cấp các hoạt động hỗ trợ, gia tăng lợi ích cho khách hàng và tăng thu nhập ngoài lãi cho ngân hàng; có địa bàn hoạt động trong khu vực Đông Dương với các chi nhánh tại Lào và Campuchia; có sự hậu thuẫn mạnh mẽ và có các khách hàng hoạt động trong những lĩnh vực cốt lõi cho sự phát triển của nền kinh tế như: than, khoáng sản, cây công nghiệp (cao su), phát triển hạ tầng và một lực lượng đông đảo các khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong các ngành kinh tế khác nhau; có khả năng cung cấp các dịch vụ hiệu quả và an toàn cho một khối lượng lớn các khách hàng cá nhân...
Trên cơ sở đánh giá hoạt động 6 tháng đầu năm 2012 của Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TienPhong Bank), Ngân hàng Nhà nước đã có công văn số 4879/NHNN-CSTT ngày 6/8/2012 chấp thuận đề nghị điều chỉnh tốc độ tăng tín dụng của TienPhong Bank.
Theo đó, dư nợ tín dụng (bao gồm cả số dư trái phiếu doanh nghiệp) đến hết ngày 31/12/2012 của TienPhong Bank sẽ được tăng tối đa 27% so với thời điểm cuối năm 2011.
Quý I/2012, tăng trưởng tín dụng của TienPhong Bank tăng chậm do ngân hàng tập trung nỗ lực tái cơ cấu. Tuy nhiên Quý II/2012, dư nợ cho vay của TienPhong Bank đã tăng 6,8% so với quý trước. Sáu tháng cuối năm, TienPhong Bank sẽ đẩy mạnh hoạt động cho vay để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn dễ dàng nhất.
Hiện TienPhong Bank đang triển khai gói tín dụng mang tên “90 ngày vàng dành cho khách hàng doanh nghiệp” với mức lãi suất ưu đãi dao động từ 12,5% - 14%. Tổng giá trị gói tín dụng là 3000 tỷ đồng. Các điều kiện cho vay được mở rộng và quy định rõ ràng.
Từ 15/8/2012 TienPhong Bank sẽ dành thêm 1000 tỷ đồng cấp tín dụng cho khách hàng khu vực đồng bằng sông Cửu Long trong chương trình mang tên “Hỗ trợ tín dụng trọn gói cho cá nhân, hộ gia đình sản xuất lúa”. Khách hàng được tài trợ chi phí lưu động để sản xuất lúa (mua phân bón, thuốc trừ sâu, thuê nhân công,...), chi phí sinh hoạt trong thời gian sản xuất lúa, chi phí mua đất nông nghiệp và đầu tư máy móc, thiết bị. Chi nhánh An Giang và Cần Thơ của TienPhong Bank sẽ là đầu mối giải ngân gói tín dụng này.
TienPhong Bank cũng đẩy mạnh cho vay khách hàng cá nhân, khách hàng vay tín chấp thấu chi được giảm tối đa 2% lãi suất so với mức thông thường.

 

Thứ Tư, 1 tháng 8, 2012

Vốn ngân hàng vẫn tăng trưởng âm

Số liệu của Bộ KH&ĐT cho biết, vốn ngân hàng cung ứng cho nền kinh tế đã tăng trưởng trở lại, đạt 0,93% đến cuối tháng 7, nhưng nếu chỉ tính riêng tăng trưởng bằng tiền mặt, tín dụng vẫn âm 0,03%. 
 

                         <<  Ngân hàng Habubank tự tin xóa nợ  >>

Báo cáo của Chính phủ tại phiên họp báo thường kỳ tháng 7 cho hay, tổng dư nợ tín dụng vẫn còn thấp, trong đó dư nợ tín dụng với VNĐ chỉ tăng 0,93%. Tình trạng nợ xấu của các ngân hàng thương mại chưa được giải quyết triệt để và số dư nợ xấu có xu hướng tăng theo thời gian.
Tuy nhiên, theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đến ngày 20/7 giảm 0,03% so với cuối năm 2011. Số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng cho biết, tăng trưởng tín dụng bằng VNĐ ước tăng 0,93%, tín dụng ngoại tệ ước giảm 3,51%.
Trong khi đó, có mặt tại cuộc họp báo chiều ngày 31/7, đại diện của Ngân hàng Nhà nước thông tin, tính đến ngày 25/7, tín dụng đối với nền kinh tế tăng 0,57% so với cuối năm 2011. Như vậy, dù mốc thời điểm xác định cách nhau 5 ngày nhưng 3 cơ quan đã đưa ra những số liệu rất khác nhau về tốc độ tăng trưởng tín dụng.
Giải thích về sự khác nhau giữa 2 con số này, tại cuộc họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 7, Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam cho biết tăng 0,93% là tính cả những khoản cấp vốn mua giấy tờ có giá như trái phiếu doanh nghiệp.
Ông Vũ Đức Đam nhìn nhận: "Tăng trưởng tín dụng của toàn nền kinh tế vẫn gần như bằng 0%. Ngân hàng Nhà nước cần quyết tâm hơn nữa".
Kết thúc 6 tháng đầu năm nay, nhiều ngân hàng - đặc biệt là các ngân hàng lớn - có tốc độ tăng trưởng tín dụng lẹt đẹt, thậm chí âm. Vietcombank chỉ tăng trưởng 2,96%, tín dụng tại Vietinbank lại giảm 3,1% so với đầu năm. Ngân hàng Á Châu (ACB) và Eximbank cũng chỉ tăng trưởng tín dụng chưa đến 1% sau 6 tháng. Trong khi đó, hạn mức tăng trưởng của các ngân hàng này đều ở mức cao nhất - 17%. Mặc dù vậy, đầu năm nay đã có một cuộc chạy đua giữa nhiều nhà băng để được Ngân hàng Nhà nước giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cao.
Gần đây, cho vay tiêu dùng tại Vietinbank đã tăng trưởng tích cực hơn nhưng ngân hàng này thừa nhận nguồn để hấp thụ tín dụng lớn nhất chính là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Trao đổi với VnExpress.net, lãnh đạo Vietinbank cho biết nguyên nhân tín dụng tăng trưởng âm là do không có người vay. Theo lý giải của vị này, tín dụng sản xuất tăng thấp vì doanh nghiệp nợ xấu quá nhiều, không còn đủ điều kiện vay.
Trong khi đó, một vị phó Tổng giám đốc ACB cho biết không mấy bất ngờ với kết quả tăng trưởng tín dụng ì ạch của 6 tháng. Đại diện ACB thông tin, sắp tới ACB sẽ họp bàn để tìm ra kế sách nâng tốc độ tăng trưởng tín dụng trong 6 tháng cuối năm lên cao.

Thứ Ba, 31 tháng 7, 2012

Ngân hàng thấm đòn: Thêm lỗ, tăng nợ xấu

Trước đây, trong khi tình hình kinh doanh của doanh nghiệp bi đát, do lãi suất đi vay cao thì các ngân hàng thương mại (NHTM) vẫn lãi cao. Nhưng quý 2/2012, lợi nhuận của một loạt ngân hàng bắt đầu giảm mạnh do phải trích lập dự phòng rủi ro nợ xấu.


                         <<  Ngân hàng habubank phát triển mạnh  >>
 

Vietinbank, Vietcombank và Sacombank đều có những mức trích dự phòng rủi ro tín dụng tăng mạnh, tương ứng là 1.453 tỉ đồng, 1.088 tỉ đồng, và 330 tỉ đồng. Các NHTM sẽ còn phải đối mặt với nợ xấu tiếp tục tăng cao trong những tháng cuối năm. Trong khi đó, chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động thu hẹp. Đặc biệt, khoản lợi nhuận có được từ mua tín phiếu ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ không còn được duy trì như trong nửa đầu năm 2012.

Được lợi từ tín phiếu
Trong những tháng đầu năm, do khó khăn trong việc giải ngân tín dụng, các NHTM đã mạnh tay mua vào tín phiếu NHNN - chứng khoán nợ. Các khoản mục chứng khoán nợ của nhiều NHTM đều tăng nhanh trong giai đoạn sáu tháng đầu năm 2012.
Vietcombank trong quý 2/2012 đã ghi nhận tới 3.900 tỉ đồng nợ có khả năng mất vốn; con số này của Vietinbank là 2.254 tỉ đồng, tăng mạnh so với con số đầu năm.


Tỷ lệ nợ xấu của các NHTM được công bố đều tăng so với cuối năm 2011. Tuy nhiên, nhiều khả năng đây vẫn chưa phải các con số cuối cùng do sự linh hoạt trong cách phân loại nợ, nên các NHTM theo cách hạch toán của riêng mình có thể vẫn có nhiều khoản nợ chưa chuyển thành nợ quá hạn và nợ có khả năng mất vốn.

Nếu tỷ lệ nợ xấu tiếp tục tăng cao thì lợi nhuận của các NHTM trong sáu tháng cuối năm sẽ bị ảnh hưởng đáng kể. Trong sáu tháng đầu năm 2012, NHNN liên tiếp hạ trần lãi suất huy động, song trần lãi suất cho vay lại thả nổi và không có chỉ đạo. Do vậy, nhiều NHTM vẫn có được lợi nhuận đáng kể nhờ sự chênh lệch này.

Tuy nhiên, hiện tại NHNN đã chỉ đạo lãi suất cho vay về dưới 15%/năm, và ngay cả các khoản cho vay cũ cũng điều chỉnh lãi suất cho vay xuống 15%. Đặc biệt vì tình hình nợ xấu tăng cao, nhiều NHTM chủ động hạ lãi suất cho vay để thu hút khách hàng vay vốn có chất lượng.
Thêm vào đó, một yếu tố lớn có thể ảnh hưởng đến hoạt động của các NHTM chính là các khoản lãi và phí phải thu có thể chưa thu được do các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, không trả được gốc và lãi. Mặc dù so với quý 4/2011, các khoản lãi và phí phải thu quý 2/2012 đã giảm khoảng -0,17%. Nhưng đây thuần tuý là vấn đề chu kỳ, vì thông thường trong các tháng cuối năm thanh khoản tiền mặt của doanh nghiệp căng thẳng hơn, khiến cho các NHTM chấp nhận cho các doanh nghiệp trả lãi và phí chậm.
Nếu so với cùng kỳ quý 2/2011 thì giá trị các khoản lãi và phí phải thu tăng tới 25,59%. Và quan trọng hơn, các tỷ lệ "lãi và phí phải thu trên thu nhập từ lãi" cũng như "lãi và phí phải thu trên thu nhập lãi thuần" cũng đều tăng lên. Điều này có nghĩa là nhiều khoản lãi phải thu mà các NHTM có thể rất khó thu được, cũng đã được các NHTM hạch toán vào thu nhập từ lãi để làm tăng lợi nhuận trong quý 2 vừa rồi.

Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2012

Hưởng lãi suất 15%, doanh nghiệp vẫn lo

Không phải tất cả các doanh nghiệp đều được ngân hàng giảm lãi suất các khoản vay cũ về 15%, nhưng những đơn vị được điều chỉnh lại lo lắng làm sao hấp thụ tốt vốn ngân hàng khi cơ thể đã quá ốm yếu.


                         <<  Ngân hàng habubank phát triển mạnh  >>
 

 
Lãnh đạo một công ty sản xuất bánh kẹo tại khu công nghiệp Tân Tạo, TP HCM cho biết, khoản vay 30 tỷ đồng, lãi suất 18% mà đơn vị ông vay hôm đầu năm 2012 nay đã được ngân hàng điều chỉnh xuống 15%. Theo ông, với mức giảm 3% lãi suất này, doanh nghiệp không chỉ tiết giảm được một khoảng chi phí đáng kể mà quan trọng hơn là tạo ra được tâm lý phấn chấn cho doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh.

Ông Trần Anh Vương, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty thép Bắc Việt, Phó chủ tịch Hội doanh nhân trẻ Hà Nội cũng cho hay, tính đến nay, hầu hết các doanh nghiệp trong Hiệp hội đã được ngân hàng cơ cấu lại nợ, giảm lãi suất khoản vay cũ xuống dưới 15% một năm.

Nhưng theo ông Vương, lãi suất xuống 15% một năm hay thậm chí chỉ còn 5% một năm đi chăng nữa thì với tình hình hiện nay nhiều doanh nghiệp vẫn "chết". Nguyên nhân theo ông không còn là ở phía ngân hàng mà là do doanh nghiệp đã quá khó khăn, hàng không bán được, nợ đọng nhiều.

Tại buổi đối thoại doanh nghiệp ngân hàng tuần trước, ông Vương thẳng thắn đặt vấn đề: "Nếu ngân hàng muốn cứu doanh nghiệp thì nên quyết định ngay, đừng để đến quá muộn".

Đồng quan điểm, Chủ tịch Hội da giày và dệt may Việt Nam, ông Phạm Xuân Hồng cho rằng, hầu hết các thành viên trong hội trước giờ vẫn hoạt động dựa trên vốn tự có là chủ yếu. Một số phải đi vay ngân hàng thì đến giờ đa phần đã được giảm lãi. Nhưng theo ông Hồng, vấn đề lớn hiện nay đối với các doanh nghiệp dệt may không phải là vốn, lãi suất mà là sự tắc nghẽn đầu ra. "Chúng ta phải làm sao tìm đầu ra cho hàng hóa. Đó là vấn đề sống còn của doanh nghiệp lúc này", ông Hồng nói.

Bên cạnh những doanh nghiệp được nhà băng sốt sắng giảm lãi nợ vay cũ về 15% nên lãi suất với họ không còn là vấn đề lớn thì vẫn còn đâu đó những đơn vị phàn nàn bị làm khó dễ. Giám đốc một công ty lắp đặt thiết bị điện - viễn thông tại Hà Nội cho biết, rất khó để yêu cầu các ngân hàng điều chỉnh lãi suất, phần lớn chỉ trông chờ vào khả năng thỏa thuận. Anh lý giải: "Doanh nghiệp - ngân hàng cùng thỏa thuận dựa trên một hợp đồng kinh tế đã có từ trước. Do đó, nếu may mắn thì được giảm lãi suất không cũng đành chịu vì chẳng thể nào bắt ép họ được".

Với các khoản vay mới, mặc dù các ngân hàng rầm rộ tuyên bố các gói tín dụng với lãi suất ưu đãi, nhưng nhiều doanh nghiệp cho biết hiện vẫn khó tiếp cận vốn vay từ ngân hàng. Tổng giám đốc một công ty địa ốc quy mô vừa tại Hà Nội cho hay tình hình doanh nghiệp bất động sản nhìn chung vẫn còn khó khăn. Chỉ tính riêng tiền giải phóng mặt bằng cũng đã chiếm khoảng 10%, tiền móng chiếm 30-40% chi phí dự án. Trong khi doanh nghiệp không bán được hàng, việc huy động từ dân khó khăn thì lối thoát duy nhất chính là phía ngân hàng.

Thế nhưng, theo vị này, việc tiếp cận vốn vay ngân hàng cũng không dễ bởi ngân hàng vẫn "chắc lép" thủ tục hồ sơ vay. "Nhà băng kiểm tra rất kỹ tính khả thi của dự án nhất là tính thanh khoản. Tuy nhiên trong bối cảnh trầm lắng như hiện nay, việc bán hàng là một thách thức với chủ đầu tư nên chuyện vay ngân hàng lãi suất thấp sẽ không đơn giản", giám đốc công ty này chia sẻ.

Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ Cao Sỹ Kiêm thừa nhận việc vay vốn hiện vẫn khó khăn. "Lý do là hàng tồn kho của họ nhiều, chưa bán được và nợ xấu thì còn đấy nên không đáp ứng được tiêu chuẩn vay vốn của ngân hàng", ông Kiêm giải thích.

Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp trẻ Hà Nội cũng cho biết mặc dù khoản vay cũ đã được giảm về 15% một năm như "lệnh" của Thống đốc nhưng việc vay vốn hiện không dễ. Nguyên nhân theo ông không phải do ngân hàng đưa ra điều kiện quá cao mà là doanh nghiệp không còn khả năng đáp ứng những điều kiện đó nữa vì tình trạng quá khó khăn.

"Nếu tôi làm giám đốc ngân hàng chắc bản thân cũng không dám cho vay. Nói chung là ngân hàng cũng chẳng thể làm khác được trong bối cảnh này", ông Trần Anh Vương thẳng thắn chia sẻ.

Trong khi đó, nhìn nhận về tiến trình giảm lãi vay khoản nợ cũ xuống 15%, ông Võ Trí Thành - Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ương (CIEM) cho rằng, việc giám sát "trần" lãi vay 15% một năm với các khoản vay cũ sẽ khác với trần lãi suất huy động. Bởi theo ông Thành, đây chỉ là một kiến nghị, yêu cầu của Thống đốc với các ngân hàng và không có văn bản pháp luật nào kèm theo.

Theo ông, hợp đồng kinh doanh, hợp đồng vay mượn giữa tổ chức tín dụng và doanh nghiệp được pháp luật bảo hộ và việc lãi suất ghi trong đó giảm như thế nào là sự thỏa thuận của hai bên.

Chuyên gia này cũng nói thêm, để "lệnh" của Thống đốc hiệu quả, nên lập ra một số động lực khuyến khích các ngân hàng để họ tự hiểu rằng, đó là việc nên làm trong mối quan hệ sống còn với doanh nghiệp. Nếu các ngân hàng làm theo, Ngân hàng Nhà nước có thể đưa ra một vài khuyến khích nào đấy để họ chủ động thực hiện.

Riêng tại địa bàn TP HCM, Phó giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh thành phố Nguyễn Hoàng Minh cho biết, tính đến thời điểm hiện nay, đã có 45% trên tổng dư nợ cũ đã được các nhà băng giảm về 15%. "Các ngân hàng thương mại TP HCM phấn đấu đến cuối tháng 7, tất cả những khoản vay cũ của doanh nghiệp đủ điều kiện theo quy định sẽ được giảm hết lãi suất về 15%", ông Minh nói.

 

Thứ Sáu, 13 tháng 7, 2012

Nợ xấu lớn gần gấp đôi con số nhà băng "tự khai"?

Chiều 12/7, NHNN chính thức cho biết, nợ xấu của hệ thống ngân hàng là hơn 202.000 tỷ đồng, chiếm 8,6% tổng dư nợ.

                         <<  Ngân hàng Habubank tự tin xóa nợ  >>


Nợ xấu ngân hàng ở mức trên 
202.000 tỷ đồng.
Nợ xấu ngân hàng ở mức trên 202.000 tỷ đồng.
Còn nợ xấu theo báo cáo của các tổ chức tín dụng là hơn 117.000 tỷ đồng, chiếm 4,47% so với tổng dư nợ. Tại cuộc họp báo chiều 12/7, Quyền Chánh thanh tra giám sát Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Hữu Nghĩa cho biết: Tính đến 31/3/2012, nợ xấu là hơn 202.000 tỷ đồng, chiếm 8,6% tổng dư nợ.
Trong khi đó, tính đến ngày 31/5/2012, nợ xấu theo báo cáo của các tổ chức tín dụng (TCTD) là hơn 117.000 tỷ đồng, chiếm 4,47% so với tổng dư nợ.
Theo ông Nguyễn Hữu Nghĩa, nguyên nhân nợ xấu theo kết quả giám sát cao hơn nợ xấu theo báo cáo của các TCTD tại thời điểm tháng 3/2012 là do: Các tiêu chí xác định nợ xấu theo quy định hiện hành có bao gồm tiêu chí định lượng (như: thời gian quá hạn, số lần cơ cấu lại thời hạn trả nợ,…) và tiêu chí định tính (chấm điểm, xếp hạng khách hàng, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng). Việc bao gồm các tiêu chí định tính và định lượng trong phân loại nợ là phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, do khoản nợ rủi ro và năng lực quản trị rủi ro của các TCTD là khác nhau, nên việc sử dụng các tiêu chí định tính trong phân loại nợ dễ dẫn đến sự thiếu minh bạch trong xác định và ghi nhận nợ xấu của TCTD.
Ngoài ra, một số TCTD không thực hiện đúng quy định về phân loại nợ, ghi nhận nợ xấu thấp hơn thực trạng và quy định để giảm chi phí trích lập dự phòng rủi ro. Một nguyên nhân nữa là do thiếu thông tin về phân loại nợ của khách hàng tại các TCTD, nên dẫn đến có sự khác nhau về nhóm nợ của 1 khách hàng quan hệ tại nhiều TCTD.
“Do các nguyên nhân trên, nợ xấu do TCTD báo cáo thường thấp hơn nợ xấu theo kết quả giám sát TCTD và còn thấp hơn nữa so với nợ xấu theo kết quả thanh tra tại chỗ của NHNN. Kết quả thanh tra tại chỗ vừa qua đối với một số ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém thuộc diện phải cơ cấu lại cho thấy nợ xấu thực tế của các TCTD cao hơn nhiều số hiện báo cáo của TCTD”, ông Nghĩa nói.
Theo ông Nghĩa, NHNN khi theo dõi nợ của khách hàng dựa vào thông tin khách hàng phân loại nợ vào nhóm có tỷ lệ rủi ro cao nhất. Còn các TCTD khó có thể thực hiện được điều này do không có đầy đủ thông tin về tình hình vay nợ của khách hàng tại các tổ chức tín dụng khác nhau.
Số liệu về nợ xấu mà NHNN cung cấp (hơn 202.000 tỷ đồng) là theo kết quả giám sát của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng đối với gần 1,01 triệu khách hàng vay được chọn mẫu của 57 tổ chức tín dụng Việt Nam chiếm tới 90,1% tổng dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng.
Về thời gian tính nợ xấu mà NHNN đưa ra chỉ mới đến cuối tháng 3, ông Nguyễn Hữu Nghĩa cho biết, theo quyết định của NHNN, các TCTD phải báo cáo định kỳ về nợ xấu, song, hầu hết các TCTD đều nộp báo cáo chậm khoảng 1,5 tháng so với quy định. Bởi vậy, con số nợ xấu do NHNN công bố mới chỉ dừng lại ở những số liệu của 3 tháng đầu năm.
Cũng theo ông Nghĩa, nợ xấu của hệ thống ngân hàng tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực như sản xuất, công nghiệp, xây dựng… Trong đó, dư nợ cho vay đầu tư kinh doanh bất động sản khoảng 197.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 10,3% tổng tổng nợ xấu của ngân hàng. Giá trị tài sản đảm bảo cho nợ xấu trọng dư nợ bất động sản lên tới 180% dư nợ.
Bên cạnh đó, nợ xấu đối với cho vay lĩnh vực đầu tư chứng khoán khoảng 485 tỷ đồng. Nợ xấu được phân vào nhóm 5, tức là nhóm có mức độ rủi ro cao nhất chiếm 40% tổng nợ xấu, nhưng khoản nợ này đã được các ngân hàng trích lập dự phòng rủi ro và hầu hết đều có tài sản bảo đảm.
Nợ xấu của hệ thống ngân hàng được cho là cao, nhưng theo ông Nghĩa: So với tổng dư nợ cấp tín dụng cho nền kinh tế Việt Nam, tỷ lệ nợ xấu hiện nay ở mức 4,47% theo báo cáo của TCTD hay 8,6% theo kết quả giám sát vẫn thấp hơn so với tỷ lệ nợ xấu của một số nước trong khu vực tại thời điểm Chính phủ phải đứng ra xử lý nợ xấu. Ví dụ như tại: Hàn Quốc là 17% (tháng 3/1998), Thái Lan 47,7% (tháng 5/1999), Malaysia 11,4% (tháng 9/1998), Indonesia trên 50% (năm 1999).